Thông số V-Ray DMC Sampler Setting – Phần 2

Thông số V-Ray DMC Sampler Setting – Phần 2

Ở phần 1, chúng ta đã tìm hiểu về  Quá trình lấy mẫu của Adaptive Sampling.  Phần 2 này chúng ta tiếp tục tìm hiểu về Subdivision sampler của V-Ray.

PHẦN 2

Subdivision sampler

"/

Sau khi các tia khởi tạo được gửi đi vào khung hình và thông tin được thu thập, Subdivision Sampler sẽ phân tích những thông tin này và quyết định xem pixel nào cần được lấy mẫu thêm và pixel nào không. Mẫu lấy tại các đỉnh của mỗi pixel sẽ được sử dụng và so sánh…nếu sự sai khác màu sắc vượt lên trên ngưỡng threshold đã khai báo trong bảng render option (xem hình bên dưới) thì Vray sẽ tiến hành chia nhỏ pixel đó nhiều lần và lấy thêm nhiều mẫu hơn bên trong pixel đó.

"

Quá trình này được lặp lại một vài lần cho đến khi điều kiện dưới mức ngưỡng threshold được thỏa mãn, hoặc khi đạt đến số lượng lấy mẫu (theo pixel) tối đa cho phép được thiết lập bởi thông số Max rate. Hãy ghi nhớ rằng, giá trị max subdivided được thiết lập trong bộ Subdivision Sampler không đại diện cho số lượng mẫu tối đa lấy theo pixel, mà nó đại diện cho số lần pixel đó được chia nhỏ, có nghĩa là 0=1 mẫu (theo pixel), 1=4 mẫu, 2=16, 3=64. Cũng ghi chú thêm rằng có các mẫu được dùng chung giữa các pixel (trên các cạnh chung), vậy nên một cách đơn giản là nếu bạn cài đặt giá trị Max rate bằng 2 thì thực tế sẽ có 25 mẫu được sử dụng cho pixel đó…9 mẫu cục bộ bên trong pixel cộng thêm 16 mẫu (trên các cạnh) dùng chung với các pixel khác. Với giá trị Max rate bằng 1 sẽ có 1 mẫu cục bộ và 8 mẫu dùng chung với các pixel khác. Hãy cùng xem qua bức hình bên dưới để có được sự giải thích sâu hơn:

"

Vấn đề chính ở đây là Subdivision Sampler chỉ quyết định việc lấy thêm mẫu cho một pixel dựa trên thông tin thu thập từ đỉnh của pixel đó. Nó cơ bản không biết được toàn bộ thông tin màu của các pixel kế cạnh mà chỉ biết được một phần ở đỉnh dùng chung với những pixel này. Điều này hoạt động đúng trong một số khung cảnh, tuy nhiên trong trường hợp có rất nhiều các vật thể nhỏ li ti hoặc các textures rất chi tiết, thông tin màu của các mẫu đến từ đỉnh là không đủ.

Thứ chúng ta cần để đưa ra quyết định có lấy thêm mẫu hay không là một lượng thông tin màu đầy đủ nhất của các pixel kế cận. Đó chính xác là điều mà bộ DMC Sampler có thể làm được, và đó là lý do mà trong những khung cảnh có độ phức tạp và chi tiết hóa cao với những đường nét cực mảnh chẳng hạn, DMC Sampler có thể đưa ra các quyết định chính xác hơn về những vị trí cần lấy thêm mẫu bên trong khung cảnh và sản phẩm sau cùng (đặc biệt là các hoạt cảnh animation) sẽ cân đối hơn, ổn định hơn, và không bị chập chờn khi đi từ frame hình này đến frame hình kia. Bức hình bên dưới sẽ chỉ rõ điều này:

"

"/

Khi sử dụng Subdivision Sampler, mỗi một vùng trong khung cảnh sẽ sử dụng kết hợp một số dạng lấy mẫu giúp kết quả cân đối hơn, ví dụ như độ mờ phản xạ, mờ khúc xạ, GI, DOF và độ mờ chuyển động motion blur, cùng với số lượng lấy mẫu được cài đặt cho từng tùy chọn này trong thông số Subdivs, mọi thứ sau đó sẽ được trung bình lại và kết hợp với nhau tạo nên thông tin màu, và thông tin màu này sẽ được so sánh với các mẫu kế cận để đưa ra quyết định có chia nhỏ và lấy thêm mẫu hay không.

Điều này có nghĩa là nếu bạn có 20 mẫu dùng cho DOF, 10 cho motion blur và 100 cho độ bóng phản xạ (glossy reflection), bạn có thể sẽ phải tính toán một số lượng mẫu cực lớn cho mỗi pixel. Nó sẽ cho ra một sản phẩm đẹp, sạch nhiễu, cân đối nhưng phải đánh đổi bằng lượng thời gian render rất lâu, vì với mỗi một mẫu lấy thêm bên trong pixel đó, bạn sẽ phải lấy mẫu với số lượng X cho từng thuộc tính như motion blur, DOF, glossiness…kể cả khi đôi lúc bạn không cần nhiều tia phụ (secondary ray) đến vậy (để tính toán cho độ phản xạ, khúc xạ, bóng đổ…) Đây là điểm mấu chốt mà một thuật toán thích nghi khác là DMC có thể thay thế và cải thiện được.

Nhưng trước khi chuyển đến các ví dụ cụ thể về DMC Sampler, chúng ta hãy cùng tìm hiểu sơ qua về tab DMC Sampler trong Vray và cách các thiết lập trong tab này ảnh hưởng đến kết quả render ra sao. Hãy ghi nhớ rằng, tab này không chỉ được sử dụng khi chế độ DMC Sampler được kích hoạt mà cũng được sử dụng khi chế độ Fixed Sampling được bật lên, khác biệt duy nhất là khi sử dụng Adaptive Subdivision Sampler quá trình lấy mẫu hình ảnh (lấy mẫu tia gốc eye ray) sẽ tách biệt với quá trình lấy mẫu vật liệu (lấy mẫu tia phụ secondary rays) ví dụ như glossy reflection…, trong khi với DMC thì mọi thứ được kết hợp trong những thiết lập này (đối với cả lấy mẫu hình ảnh và tất cả các quá trình lấy mẫu phụ khác) 

Mời các bạn đón đọc phần 3:  Các thiết lập của DMC Sampler

Theo V-Ray

Tổng hợp & Biên soạn: EKE CENTER